Carbonation in concrete using recycled coarse aggregate manufactured from construction and demolition waste

Cacbonat hóa trong bê tông sử dụng cốt liệu lớn tái chế sản xuất từ chất thải rắn Đăng nhập tài khoản 28Bet

Nghiên cứu này tập trung vào tính chất các bon nát hóa của bê tông sử dụng cốt liệu lớn tái chế sản xuất từ chất thải rắn Đăng nhập tài khoản 28Bet. Các tổ mẫu bê tông sử dụng cốt liệu lớn tái chế với các tỷ lệ thay thế khác nhau được chuẩn bị và thực hiện thí nghiệm cacbonat hóa bê tông theo Tiêu chuẩn Công nghiệp Nhật Bản (JIS) đến 26 tuần. Kết quả cho thấy, các tổ mẫu có tỷ lệ thay thế cốt liệu lớn tái chế càng cao, chiều sâu cacbonat hóa của bê tông càng lớn.

Ngày nhận bài: 26/01/2026; Ngày sửa bài: 10/02/2026; Ngày chấp nhận đăng: 23/02/2026

Tóm tắt

Hiện nay, dân số thế giới tiếp tục gia tăng kéo theo nhu cầu phát triển cơ sở hạ tầng tại các đại đô thị. Việc đô thị hóa nhanh chóng dẫn đến khối lượng lớn chất thải rắn Đăng nhập tài khoản 28Bet phát sinh từ việc phá dỡ Tải app 28Bet Đăng nhập tài khoản 28Bet cũ. Nếu khối lượng chất thải rắn Đăng nhập tài khoản 28Bet này không được xử lý hoặc có biện pháp tái chế thì sẽ gây ra nhiều vấn đề ảnh hưởng nghiêm trọng đến Thể thao 28bet cũng như chiếm dụng diện tích đất lớn phục vụ chôn lấp. Một giải pháp phát triển bền vững giúp giải quyết vấn đề này chính là tái chế chất thải rắn Đăng nhập tài khoản 28Bet thành cốt liệu tái chế sử dụng trong bê tông. Tuy nhiên, với các đặc trưng của cốt liệu tái chế, việc kiểm soát tính năng của bê tông sử dụng cốt liệu tái chế cần phải nghiên cứu sâu hơn, đặc biệt là các ảnh hưởng mang tính dài hạn đến chất lượng bê tông như cacbonat hóa.

Nghiên cứu này tập trung vào tính chất cacbonat hóa của bê tông sử dụng cốt liệu lớn tái chế sản xuất từ chất thải rắn Đăng nhập tài khoản 28Bet. Các tổ mẫu bê tông sử dụng cốt liệu lớn tái chế với các tỷ lệ thay thế khác nhau được chuẩn bị và thực hiện thí nghiệm cacbonat hóa bê tông theo Tiêu chuẩn Công nghiệp Nhật Bản (JIS) đến 26 tuần. Kết quả cho thấy, các tổ mẫu có tỷ lệ thay thế cốt liệu lớn tái chế càng cao, chiều sâu cacbonat hóa của bê tông càng lớn. Bên cạnh đó, tại 26 tuần, nghiên cứu quan sát thấy mối tương quan khá rõ ràng của giá trị độ hút nước tương đương và chiều sâu cacbonat hóa. Nghiên cứu có thể sử dụng kết quả này để thiết kế được các thành phần cấp phối của bê tông sử dụng cốt liệu lớn tái chế với tỷ lệ thay thế phù hợp để đảm bảo chiều sâu cacbonat hóa theo yêu cầu. Qua đó, phương pháp sử dụng cốt liệu lớn tái chế sản xuất từ chất thải rắn Đăng nhập tài khoản 28Bet trong bê tông nhằm tạo ra một loại vật liệu Đăng nhập tài khoản 28Bet thân thiện với Thể thao 28bet có thể được nhân rộng nhằm hướng tới mô hình phát triển bền vững cho ngành Cổng Game 28BET Uy Tín Hàng Đầu trong tương lai.

Từ khóa: Cốt liệu lớn tái chế; bê tông tái chế; chất thải rắn Đăng nhập tài khoản 28Bet; cacbonat hóa.

Abstract

Nowadays, the global population continues to rise, causing a huge demand for infrastructure development especially in metropolitan areas. This rapid urbanization generates substantial volumes of Construction and Demolition Waste (CDW) from the demolition of old structures. If not properly managed or recycled, this CDW will cause significant environmental challenges, including pollution and the occupation of a large area for landfills. A sustainable solution to this issue is the recycling of this CDW into Recycled Concrete Aggregate (RCA). However, the inherent characteristics of RCA need more investigation into the performance control of concrete, particularly concerning its long-term performance on concrete durability, such as carbonation resistance.

This study focuses on the carbonation of concrete using recycled coarse aggregate manufactured from CDW. Concrete mixtures with varying replacement ratios of recycled coarse aggregate were prepared and subjected to carbonation tests in accordance with the Japanese Industrial Standards (JIS) up to 26 weeks. The results indicate that a higher replacement ratio of recycled coarse aggregate leads to a greater carbonation depth in concrete. Furthermore, at 26 weeks, a clear correlation was observed between the relative water absorption and the carbonation depth. These findings can be utilized to design concrete mix proportions incorporating recycled coarse aggregate with appropriate replacement ratios, ensuring the carbonation depth meets specified requirements. Consequently, the method of using recycled coarse aggregate manufactured from CDW in concrete to create an eco-friendly construction material can be scaled up, promoting a sustainable development for the future construction industry.

Keywords: Recycled coarse aggregate; recycled concrete; construction and demolition waste; carbonation.

1. Đặt vấn đề

Hiện nay, kinh tế thế giới phát triển mạnh kéo theo nhu cầu phát triển cơ sở hạ tầng tăng cao. Sản lượng xi măng trên thế giới đã lên đến 110 triệu tấn vào năm 2024 [1]. Trong đó, Trung Quốc, Ấn Độ và Việt Nam là các quốc gia dẫn đầu về sản lượng xi măng trên toàn thế giới. Nếu sử dụng công nghệ đốt than để sản xuất xi măng, mỗi tấn xi măng được sản xuất sẽ phát thải ra Thể thao 28bet 920 kg CO2 [2]. Chỉ tính riêng tại Việt Nam, với sản lượng 110 triệu tấn xi măng vào năm 2024 [1], nước ta đã phát thải ướng tính 101,2 triệu tấn CO2 ra Thể thao 28bet. Việc phát triển mạnh về cơ sở hạ tầng cũng gây phát sinh một lượng lớn chất thải rắn Đăng nhập tài khoản 28Bet (CDW) từ công tác phá dỡ Tải app 28Bet cũ và Đăng nhập tài khoản 28Bet Tải app 28Bet mới. Nếu không có biện pháp xử lý, lượng CDW này có thể gây phá hoại Thể thao 28bet đất và chiếm dụng diện tích chôn lấp rất lớn gây lãng phí tài nguyên đất. Vì thế, giải pháp tái chế CDW thành cốt liệu tái chế sử dụng trong bê tông là một giải pháp tiềm năng giúp giảm thiểu lượng CDW phát thải ra Thể thao 28bet, tạo ra một vật liệu Đăng nhập tài khoản 28Bet thân thiện với Thể thao 28bet có thể ứng dụng rộng rãi trong các Tải app 28Bet Đăng nhập tài khoản 28Bet.

Nghiên cứu này tập trung vào tính chất cacbonat hóa của bê tông sử dụng cốt liệu lớn tái chế sản xuất từ chất thải rắn Đăng nhập tài khoản 28Bet. Các tổ mẫu bê tông sử dụng cốt liệu lớn tái chế với các tỷ lệ thay thế khác nhau được chuẩn bị và thực hiện thí nghiệm cacbonat hóa bê tông theo Tiêu chuẩn Công nghiệp Nhật Bản (JIS) đến 26 tuần. Kết quả cho thấy, các tổ mẫu có tỷ lệ thay thế cốt liệu lớn tái chế càng cao, chiều sâu cacbonat hóa của bê tông càng lớn. Bên cạnh đó, tại 26 tuần, nghiên cứu quan sát thấy mối tương quan khá rõ ràng của giá trị độ hút nước tương đương và chiều sâu cacbonat hóa. Nghiên cứu có thể sử dụng kết quả này để thiết kế được các thành phần cấp phối của bê tông sử dụng cốt liệu lớn tái chế với tỷ lệ thay thế phù hợp để đảm bảo chiều sâu cacbonat hóa theo yêu cầu. Qua đó, phương pháp sử dụng cốt liệu lớn tái chế sản xuất từ chất thải rắn Đăng nhập tài khoản 28Bet trong bê tông nhằm tạo ra một loại vật liệu Đăng nhập tài khoản 28Bet thân thiện với Thể thao 28bet có thể được nhân rộng nhằm hướng tới mô hình phát triển bền vững cho ngành Cổng Game 28BET Uy Tín Hàng Đầu trong tương lai.

2. Vật liệu

2.1. Chất kết dính

Chất kết dính sử dụng trong nghiên cứu này là xi măng PC (XM) với các chỉ tiêu chất lượng được thể hiện trong Bảng 1.

Bảng 1. Chỉ tiêu chất lượng của xi măng (XM)

Chỉ tiêu

Đơn vị

XM

Khối lượng riêng

g/cm3

3,16

Hàm lượng mất khi nung

%

3,52

SO3

%

2,02

2.2. Cốt liệu

Cốt liệu sử dụng trong nghiên cứu này có chỉ tiêu chất lượng như trong Bảng 2. Cốt liệu lớn tự nhiên (DATN) là đá nghiền, có khối lượng thể tích ở trạng thái khô là 2,65 g/cm3 và độ hút nước là 1,16%. Cốt liệu mịn tự nhiên (CATN) là cát sông có khối lượng thể tích ở trạng thái khô là 2,62 g/cm3 và độ hút nước là 1,47%.

Cốt liệu tái chế trong nghiên cứu này được sản xuất từ máy nghiền tác động, sau đó trải qua quá trình sàng để phân loại thành cốt liệu lớn tái chế (DATC) với kích thước 5 - 20 mm và cốt liệu mịn tái chế (CATC) với kích thước 0 - 5 mm. Trong nghiên cứu này, CDW được sử dụng để sản xuất cốt liệu tái chế không lẫn hàm lượng gạch nung. Cốt liệu lớn tái chế (DATC) có khối lượng thể tích ở trạng thái khô là 2,41 g/cm3 và độ hút nước là 5,68%. Cốt liệu mịn tái chế (CATC) có khối lượng thể tích ở trạng thái khô là 2,27 g/cm3 và độ hút nước là 8,47%. Chỉ tiêu chất lượng của DATC và CATC thể hiện trong Bảng 2 cho thấy chất lượng của DATC phù hợp với tiêu chuẩn cốt liệu lớn tái chế loại II theo TCVN 11969:2018, chất lượng của CATC phù hợp với tiêu chuẩn cốt liệu mịn tái chế cấp L theo JIS A 5023:2018.

Bảng 2. Chỉ tiêu chất lượng của cốt liệu

Chỉ tiêu

Đơn vị

DATN1

CATN2

DATC3

CATC4

Khối lượng thể tích ở trạng thái bão hòa nước

g/cm3

2,68

2,66

2,55

2,46

Khối lượng thể tích ở trạng thái khô

g/cm3

2,65

2,62

2,41

2,27

Độ hút nước

%

1,16

1,47

5,68

8,47

Mô-đun độ lớn

-

6,62

2,57

6,59

3,68

Hàm lượng hạt nhỏ hơn 75 μm

%

1,1

2,7

1,2

5,0

Hàm lượng vật liệu tạp lai

%

-

-

0,06

0,00

DATN: Cốt liệu lớn tự nhiên (đá nghiền); CATN: Cốt liệu mịn tự nhiên (cát sông); DATC: Cốt liệu lớn tái chế;

CATC: Cốt liệu mịn tái chế.

3. Thiết kế thành phần cấp phối

Bảng 3 trình bày thành phần cấp phối của các tổ mẫu được chuẩn bị để thực hiện thí nghiệm. Tất cả các tổ mẫu đều được thiết kế với tỷ lệ nước trên xi măng (W/C) cố định là 55% và sử dụng phụ gia giảm nước với hàm lượng khuyến cáo từ  nhà sản xuất là 1% khối lượng xi măng.

Qua trộn thử các thành phần cấp phối, khối lượng đơn vị của nước được xác định là 180 kg/m³ để đạt được độ sụt mục tiêu 18 ± 2,5 cm. Hỗn hợp bê tông đối chứng sử dụng xi măng và 100% cốt liệu tự nhiên. Các hỗn hợp còn lại sử dụng cốt liệu thô tái chế với tỷ lệ thay thế lần lượt là 50% và 100%. Cốt liệu mịn tái chế được sử dụng ở các tỷ lệ thay thế 30%, 50% và 100%. Đối với mỗi tổ mẫu, ba mẫu được đúc để đánh giá chiều sâu và tốc độ các bon nát hóa.

Ngoài ra, chỉ số chất lượng tương đối được áp dụng để đánh giá mối tương quan giữa tính năng bê tông (chiều sâu cacbonat hóa) và độ hút nước tương đối (Qat) của hỗn hợp [3]. Dựa trên thành phần cấp phối, giá trị Qat được tính toán sử dụng độ hút nước và thể tích tuyệt đối của cốt liệu trong thành phần cấp phối theo phương pháp tính trung bình có trọng số theo công thức (1).

Trong đó:

Qat - Độ hút nước tương đối (%);

QaDATN - Độ hút nước của cốt liệu lớn tự nhiên (%);

QaCATN - Độ hút nước của cốt liệu mịn tự nhiên (%);

QaDATC- Độ hút nước của cốt liệu lớn tái chế (%);

QaCATC - Độ hút nước của cốt liệu mịn tái chế (%);

VDATN, VCATN, VDATC, VCATC - Thể tích tuyệt đối của cốt liệu (L/m3).

Bảng 3. Thiết kế thành phần cấp phối

Mẫu thí nghiệm1

Tỷ lệ thay thế (%)

Khối lượng đơn vị2 (kg/m3)

Qat3

(%)

DATC

CATC

N

XM

DATN

CATN

DATC

CATC

DATN100-CATN100

0

0

180

327

965

807

0

0

1,30

DATN100-CATC50

0

50

180

327

965

403

0

350

2,91

DATN100-CATC100

0

100

180

327

965

0

0

699

4,51

DATC50-CATN100

50

0

180

327

482

807

439

0

2,53

DATC50-CATC30

50

30

180

327

466

586

424

218

3,49

DATC100-CATN100

100

0

180

327

0

807

877

0

3,75

1 mẫu thí nghiệm có tỷ lệ W/C = 55% và được đặt tên theo tỷ lệ thay thế cốt liệu, ví dụ: DATN100-CATN100 sử dụng 100% cốt liệu lớn tự nhiên và 100% cốt liệu mịn tự nhiên, DATC50-CATC30 sử dụng 50% cốt liệu lớn tái chế và 30% cốt liệu mịn tái chế. Các mẫu bê tông đều sử dụng phụ gia giảm nước với thành phần naphthalene formaldehyde sunfonate với hàm lượng 1% khối lượng xi măng; 2 N: Nước, XM: Xi măng, DATN: Cốt liệu lớn tự nhiên, CATN: Cốt liệu mịn tự nhiên, DATC: Cốt liệu lớn tái chế, CATC: Cốt liệu mịn tái chế; 3 Qat: Độ hút nước tương đối.

4. Kết quả và thảo luận

4.1. Bê tông tươi

Kết quả thí nghiệm bê tông tươi được thể hiện trong Bảng 4. Độ sụt của bê tông tươi được đo theo Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 3106:2022. Khối lượng thể tích và nhiệt độ của hỗn hợp tươi lần lượt được xác định theo TCVN 3108:1993 và TCVN 9340:2012. Tất cả các hỗn hợp bê tông đều đạt độ sụt mục tiêu 18 ± 2,5 cm. So với bê tông thường (DATN100-CATN100), các mẫu bê tông sử dụng cốt liệu tái chế có độ sụt thấp hơn, nguyên nhân chủ yếu do hình dạng của loại cốt liệu này khi được sản xuất bằng máy nghiền tác động [4].

Một mối tương quan được ghi nhận giữa tỷ lệ thay thế cốt liệu tái chế và khối lượng thể tích của bê tông. So với mẫu bê tông đối chứng (DATN100-CATN100), các mẫu sử dụng 100% cốt liệu thô tái chế (DATC) hoặc 100% cốt liệu mịn tái chế (CATC) thể hiện sự suy giảm khối lượng thể tích rõ rệt. Xu hướng trên là do lượng vữa dính bám có khối lượng riêng thấp trên bề mặt cốt liệu tái chế [5].

Nhiệt độ đo được của bê tông tươi trong tất cả các mẫu dao động từ 26,1oC đến 28,5oC.

Bảng 4. Kết quả thí nghiệm bê tông tươi

Mẫu thí nghiệm

Độ sụt (cm)

Khối lượng thể tích (kg/m3)

Nhiệt độ (⁰C)

DATN100-CATN100

19,0

2.336

28,4

DATN100-CATC50

18,5

2.234

28,5

DATN100-CATC100

18,0

2.084

28,1

DATC50-CATN100

17,5

2.273

27,3

DATC50-CATC30

18,5

2.247

26,1

DATC100-CATN100

17,5

2.208

27,7

 4.2. Bê tông đóng rắn

Thí nghiệm cacbonat hóa bê tông được thực hiện theo tiêu chuẩn JIS A 1152:2018 và JIS A 1153:2018 của Nhật Bản, mỗi tổ mẫu được chuẩn bị 3 mẫu với kích thước (100×100×400)mm. Các mẫu này sau khi dỡ khuôn sẽ được bảo quản trong điều kiện tiêu chuẩn trong 4 tuần, Thể thao 28bet độ ẩm ≥ 95%, nhiệt độ 20 ± 2oC. Sau đó, các mẫu thí nghiệm được đặt vào phòng khí hậu trong 4 tuần với điều kiện độ ẩm 60 ± 5%, nhiệt độ 20 ± 2oC. Sau 8 tuần, các mẫu thí nghiệm được bọc kín 4 mặt bằng giấy bạc, chỉ để hở hai mặt bên (mặt 100×400 mm). Các mẫu được đưa vào tủ khí hậu với điều kiện độ ẩm 60 ± 5%, nhiệt độ 20 ± 2oC và nồng độ CO2 duy trì ở mức 5 ± 2% trong suốt thời gian tiến hành thí nghiệm. Tại các thời điểm thí nghiệm 1 tuần, 4 tuần, 8 tuần, 13 tuần và 26 tuần, mẫu thí nghiệm sẽ được cắt 6 cm và phun dung dịch Phenolphthalein nồng độ 1% để kiểm tra chiều sâu cacbonat hóa. Mỗi mẫu sẽ được đo 10 giá trị, kết quả cuối cùng là giá trị trung bình của 10 giá trị đo được theo như Hình 1.

Hình 1. Mẫu bê tông thực hiện thí nghiệm cacbonat hóa.
Hình 2. Chiều sâu cacbonat hóa bê tông.

Hình 2 thể hiện kết quả chiều sâu cacbonat hóa của bê tông của các mẫu bê tông từ 1 tuần đến 26 tuần. Kết quả cho thấy mẫu đối chứng (DATN100-CATN100) có chiều sâu cacbonat hóa thấp nhất, đạt 8,86 mm tại 26 tuần. Trong khi đó, so sánh với mẫu đối chứng, các mẫu sử dụng 50% cốt liệu mịn tái chế (DATN100-CATC50), 100% cốt liệu mịn tái chế (DATN100-CATC100) có chiều sâu cacbonat hóa lớn nhất lên đến 22,60 mm. Mẫu sử dụng 100% cốt liệu lớn tái chế (DATC100-CATN100) cũng có chiều sâu cacbonat hóa cao hơn các mẫu còn lại lên đến 15,77 mm. Kết quả cho thấy, mẫu sử dụng càng nhiều cốt liệu tái chế, chiều sâu cacbonat hóa càng lớn [6]. Đặc biệt, khi sử dụng 100% cốt liệu mịn tái chế, chiều sâu cacbonat hóa sẽ tăng rất mạnh. Vì thế, khi sử dụng cốt liệu mịn tái chế, tỷ lệ thay thế cần được kiểm soát chặt chẽ để đảm bảo tính năng bê tông theo yêu cầu.

Hình 3 thể hiện kết quả hệ số tốc độ cacbonat hóa của bê tông của các mẫu bê tông từ 1 tuần đến 26 tuần. Giá trị hệ số tốc độ cacbonat hóa của bê tông được tính theo công thức (2). So sánh với mẫu đối chứng sử dụng 100% cốt liệu tự nhiên (DATN100-CATN100), các mẫu sử dụng 100% cốt liệu mịn tái chế (DATN100-CATC100) và mẫu sử dụng 100% cốt liệu lớn tái chế (DATC100-CATN100) đều có hệ số tốc độ cacbonat hóa cao hơn. Kết quả cho thấy, tỷ lệ thay thế cốt liệu tái chế càng lớn, hệ số tốc độ cacbonat hóa càng cao [7].

Trong đó:

K - Hệ số tốc độ cacbonat hóa;

x - Chiều sâu cacbonat hóa (mm);

t - Số tuần.

Hình 3. Hệ số tốc độ cacbonat hóa bê tông.

Hình 4 thể hiện mối quan hệ giữa độ hút nước tương đối (Qat) và chiều sâu cacbonat hóa tại 1 tuần, 4 tuần, 13 tuần và 26 tuần. Giá trị độ hút nước tương đối được tính theo công thức (1) với mỗi thành phần cấp phối của các tổ mẫu với kết quả tính toán theo Bảng 3. Tại tuần 1, kết quả cho thấy tính tương quan chưa cao với hệ số xác định R2 = 0,5719. Sau đó, hệ số xác định tăng dần từ tuần 4, tuần 13 và đạt R2 = 0,8665 tại 26 tuần. Tại thời điểm 26 tuần, mối quan hệ giữa giá trị độ hút nước tương đối (Qat) và chiều sâu cacbonat hóa có tính tương quan cao, các mẫu bê tông đều có chiều sâu cacbonat hóa dưới 25 mm. Vì thế, phương trình dự báo chiều sâu cacbonat hóa theo độ hút nước tương đối có thể được sử dụng để thiết kế thành phần cấp phối bê tông sử dụng cốt liệu tái chế thỏa mãn yêu cầu về chiều sâu cacbonat hóa [8].

Hình 4. Mối quan hệ giữa độ hút nước tương đối (Qat) và chiều sâu cacbonat hóa bê tông.

5. Kết luận

Nghiên cứu này đã tiến hành thí nghiệm với các thành phần cấp phối bê tông sử dụng tỷ lệ thay thế cốt liệu lớn tái chế khác nhau nhằm đánh giá chiều sâu và hệ số tốc độ cacbonat hóa của bê tông.

Đối với bê tông tươi, tỷ lệ thay thế cốt liệu tái chế càng cao, độ sụt của bê tông tươi càng giảm do hình thái cốt liệu tái chế được sản xuất qua quá trình nghiền bằng máy nghiền dạng tác động. Ngoài ra, tỷ lệ thay thế cốt liệu tái chế càng cao cũng dẫn đến khối lượng thể tích của bê tông tươi càng giảm.

Đối với bê tông đóng rắn, nếu sử dụng 100% cốt liệu tái chế sẽ làm tăng chiều sâu cacbonat hóa rất nhiều so với mẫu đối chứng chỉ sử dụng cốt liệu tự nhiên. Tỷ lệ thay thế cốt liệu lớn tái chế càng tăng, chiều sâu và tốc độ cacbonat hóa của bê tông càng lớn. Bằng việc sử dụng phương trình dự báo chiều sâu cacbonat hóa dựa trên độ hút nước tương đương (Qat) tại 26 tuần, thành phần cấp phối của bê tông sử dụng cốt liệu tái chế có thể được thiết kế để đảm bảo chiều sâu cacbonat của bê tông thỏa mãn yêu cầu đặt ra.

Việc sử dụng cốt liệu lớn tái chế trong bê tông nhưng vẫn đảm bảo được tính năng cacbonat hóa có thể thúc đẩy việc sử dụng cốt liệu tái chế từ chất thải rắn Đăng nhập tài khoản 28Bet trong ngành Cổng Game 28BET Uy Tín Hàng Đầu. Giải pháp này có tiềm năng trong việc thúc đẩy sử dụng các loại vật liệu Đăng nhập tài khoản 28Bet thân thiện với Thể thao 28bet nhằm hướng tới sự phát triển bền vững của ngành Cổng Game 28BET Uy Tín Hàng Đầu trong tương lai.

Lời cảm ơn: Nghiên cứu này được tài trợ bởi Trường Đại học Hàng hải Việt Nam trong Đề tài mã số DT25-26.100.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] U.S. Geological Survey. Mineral Commodity Summaries 2025, 2025.
[2] Volker Hoenig, Helmut Hoppe and Bernhard Emberger. Carbon capture technology-options and potentials for the cement industry. PCA R&D Serial, no. 3022, p. 98, 2007.
[3] Huynh Nguyen Van, Yasuhiro Dosho, Duc Nguyen Anh and Sang Nguyen Thanh. Performance Evaluation and Mix Proportion Design of Concrete Using Low-quality Recycled Aggregate in Vietnam. International Conference on Sustainability in Civil Engineering, Springer, 2022.
[4] Rashid Ali và Roszilah Hamid. Workability and compressive strength of recycled concrete waste aggregate concrete. Applied Mechanics and Materials, no. 754, pp. 417-420, 2015.
[5] PC Yong và DCL Teo. Utilisation of recycled aggregate as coarse aggregate in concrete. Journal of Civil Engineering, Science and Technology, no.1(1), pp. 1-6, 2009.
[6] RV Silva, R Neves, J De Brito and RK Dhir. Carbonation behaviour of recycled aggregate concrete. Cement and Concrete Composites, no. 62, pp. 22-32, 2015.
[7] IF Sáez Del Bosque, Philip Van den Heede, Nele De Belie, MI Sánchez De Rojas and César Medina. Carbonation of concrete with construction and demolition waste based recycled aggregates and cement with recycled content. Construction and Building Materials, no. 234, p. 117336, 2020.
[8] Yasuhiro Dosho. Development of a sustainable concrete waste recycling system-Application of recycled aggregate concrete produced by aggregate replacing method. Journal of advanced concrete technology, no. 5(1), pp. 27-42, 2007.

Bình luận
  • Tìm hiểu về tại Tải app 28Bet Việt Nam
  • giá tốt
  • Tư vấn sẵn kho, giao ngay
  • Nam Phương
  • Dự án Thành phố thuỷ liệu đầu tiên tại Việt Nam